Nhân 65 năm ngày mất của Đặng Thế Phong (1918-1942): NGƯỜI NHẠC SĨ TÀI HOA MỆNH YỂU CỦA MÙA THU

Chủ nhật - 30/09/2007 09:51

(NCTG) Hình ảnh mùa thu trong nghệ thuật của Việt Nam, có lẽ mở đầu với những vần thơ trác tuyệt của Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Lưu Trọng Lư…, để rồi bàng bạc trong những sáng tác của nhiều thế hệ nhạc sĩ Việt Nam như Văn Cao, Đoàn Chuẩn - Từ Linh, Phạm Duy, Cung Tiến, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Phạm Trọng Cầu…

 

Nhưng nếu phải nhắc đến tên một người mà cả sự nghiệp sáng tác gắn liền với mùa thu mà không một ai sau đó khi sáng tác về mùa thu không chịu ảnh hưởng, đồng thời, có thể gọi ông là nghệ sĩ tài hoa mệnh yểu nhất trong lịch sử nghệ thuật Việt Nam, thì đó là Đặng Thế Phong, nhạc sĩ tiên phong và tiêu biểu của nền Tân nhạc Việt Nam thời “Tiền chiến”, đã từ giã cõi trần 65 năm nay.

Sinh năm 1918 tại thành phố Nam Định, là con thứ hai trong một gia đình có sáu anh em (hai trai bốn gái), Đặng Thế Phong mất cha - ông Đặng Hiển Thế, thông phán Sở Trước bạ Nam Định - từ khi còn nhỏ. Gia cảnh túng thiếu, ông phải bỏ học khi đang theo học năm thứ hai bậc Thành Chung tại Trường Trung học Saint Thomas d'Aquin. Đặng Thế Phong lên Hà Nội làm nhiều nghề để kiếm sống và ăn học: có dạo, ông hợp tác và vẽ cho báo “Học Sinh” của chủ bút Phạm Cao Củng (1). Đặng Thế Phong còn ghi danh học trên tư cách bàng thính viên tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tới năm 1939; tại đây, ông đã để lại một giai thoạt đẹp và buồn. Trong một kỳ thi, Đặng Thế Phong vẽ một bức tranh cây cụt, không có một cành nào. Lúc nộp bài, giáo sư Tardieu (2), thày dạy ông khen đẹp, nhưng đoán rằng có lẽ Đặng Thế Phong sẽ không thọ!

Thời gian sau, đầu năm 1941, ông lang thang vào Sài Gòn, sau đó sang Campuchea kiếm sống trong vòng nửa năm - có lúc, ông mở một lớp dạy nhạc tại đây. Sinh thời, Đặng Thế Phong sống rất nghèo khổ và cực nhọc: từ năm 1940, ông mắc bệnh lao nhưng không có tiền chữa chạy, bệnh lan vào màng óc khiến ông qua đời năm 1942 khi mới 24 tuổi tại một căn gác hẹp phố Hàng Đồng, Nam Định.

*

Đặng Thế Phong là người đa tài: ông vẽ giỏi, có giọng hát khá cao (gần ở mức tenor), đã nhiều lần đứng dưới ánh đèn sân khấu mà lần đầu tiên, có người nhớ lại, là bận ông trình diễn bản “Con thuyền không bến” tại rạp chiếu bóng Olympia, phố Hàng Da (Hà Nội) năm 1941. Nhạc sĩ Dozãn Mẫn, người cùng thời với Đặng Thế Phong, đã nhận xét rằng ông là người “hết sức tài hoa”, “chơi được rất nhiều nhạc cụ”.

Là một trong những nhạc sĩ đầu tiên của nền “nhạc cải cách” Việt Nam, trong 24 năm của đời mình, Đặng Thế Phong chỉ để lại vỏn vẹn 4-5 tác phẩm (3), trong đó có 3 nhạc phẩm nổi tiếng và quen biết về mùa thu là "Đêm thu" (viết cho lửa trại của học sinh Hà Nội 1940), "Con thuyền không bến" (thai nghén và hoàn chỉnh trong những ngày cực nhọc kiếm sống ở Nam Vang, năm 1941) và "Giọt mưa thu" (thoạt đầu mang tựa đề "Vạn cổ sầu" nhưng do góp ý của bạn bè, nhạc sĩ đặt lại cho bớt phần bi ai; lời của nhạc phẩm này được coi là sáng tác chung của Đặng Thế Phong và Bùi Công Kỳ, một đồng hương trong nhóm các nhạc sĩ thành Nam thời bấy giờ, như Hoàng Trọng, Đan Thọ…)

Trong số 3 ca khúc về mùa thu thì “Con thuyền không bến” và “Giọt mưa thu”, theo một số hồ tưởng, được coi là lấy từ cảm hứng mối tình giữa Đặng Thế Phong với một thiếu nữ tên là Tuyết (4). Tuy nhiên, gạt ra ngoài những yếu tố riêng tư có thể có, dễ nhận thấy âm hưởng vụ trũ rất mạnh mẽ và lãng mạn trong cả ba ca khúc: sự hòa nhịp giữa lòng người, tâm tình của một cá nhân nhỏ bé với tất cả cảnh vật và vũ trụ xung quanh. Nếu như trong ca khúc đầu tay “Đêm thu”, tác giả mới chỉ thể hiện nỗi lòng con người trong một đêm thu vắng vẻ, bên khu vườn nhỏ lặng lẽ của mình, để rồi cho con người tình tự với cỏ cây, hoa lá, trăng sao, thì đến “Con thuyền không bến”, “người nghệ sĩ không còn đứng trong khu vườn nhỏ của mình nữa, anh dắt ta ra trước cảnh thu về trên một dòng sông” để “nói lên được tâm trạng của thanh niên nam nữ… bơ vơ lạc lõng như những con thuyền không bến” (Phạm Duy). Và trong “Giọt mưa thu”, nhạc phẩm cuối cùng viết trên giường bệnh, một trong những ca khúc bất tử của Tân nhạc Việt Nam, dường như cả cái buồn não nề, da diết của thời đại đã hội tụ trong từng giọt mưa ngâu mùa thu, từng giọt nước mắt của đôi trai gái Ngưu Lang - Chức Nữ trong cảnh ly biệt và nhuốm màu chết chóc ngày Thất Tịch.

Chùm ca khúc về mùa thu của Đặng Thế Phong có thể tựu trung vào một câu: “Dương thế bao la sầu”. “Hồn thu” là như thế, là những cảnh “gió xa xôi vẫn về”, “mưa giăng mù lê thê”, lũ “chim non chiêm chiếp kêu trên cành” để rồi vợ chồng Ngâu sẽ “mãi mãi khóc vì thu”. Bởi vì, cho dù “bến mơ dù thiết tha”, thì “thuyền ơi đừng chờ mong”, một khi “lòng vắng muôn bề không liếp che, gió về”. Chịu ảnh hưỏng của Thơ Mới (và có thể, của thi ca lãng mạn Pháp), lời ca khúc của Đặng Thế Phong không chỉ là những vần thơ đẹp bậc nhất của tân nhạc Việt Nam, mà còn khiến chúng ta liên tưởng đến những họa phẩm của trường phái Ấn tượng, mà chắc chắn nhạc sĩ đã chịu ảnh hưởng trong những tháng ngày theo học Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội.

Sáu mươi lăm năm sau ngày qua đời, cho dù các nhạc phẩm của Đặng Thế Phong đã được “tái hồi” tại các sân khấu nhạc Việt Nam chừng hai chục nay, sau nhiều thập niên vắng bóng vì bị coi là “ủy mị”, “tiêu cực”, nhưng đến giờ, dường như ngay tại quê hương người nhạc sĩ tài ba này cũng chưa có con đường, góc phố nào được mang tên ông. Có điều, những tâm hồn yêu mùa thu, cứ mỗi độ thu về, lại nghe "Tiếng Thu như thì thầm - Trong hàng cây trầm mơ" và không quên người nhạc sĩ tài hoa mệnh yểu của mùa thu.

Có lẽ đối với Đặng Thế Phong, điều đó cũng khiến ông ấm lòng nơi cõi cực lạc…

Ghi chú:

(1) Phạm Cao Củng (sinh năm 1913, hiện sống tại bang Florida, Hoa Kỳ) là người Việt đầu tiên thử nghiệm và thành danh với việc bản địa hóa tiểu thuyết trinh thám của phương Tây. Theo tự "Tự điển Văn học" (bộ mới), mục từ Phạm Cao Củng (do cháu gái nhà văn là PGS Phạm Tú Châu chấp bút), nhà văn Phạm Cao Củng ra đời trong một gia đình giáo học, từ nhỏ đã mê đọc sách kiếm hiệp dịch của Tàu và những tác phẩm trinh thám phương Tây. Hậu bán thập kỷ 30, sách của Phạm Cao Củng được đăng dài kỳ trên "Tiểu thuyết thứ Bảy" và trong vòng chừng  6-7 năm, ông đã công bố 20 tiểu thuyết trinh thám trên các báo, đưa những cái tên "thám tử Kỳ Phát" và “Tám Huỳnh Kỳ” trở thành một khái niệm trong lòng độc giả. Ngoài sách trinh thám, Phạm Cao Củng còn là một nhà báo chuyên nghiệp và cần cù: ông viết thạo mọi thể loại văn, thơ, dịch văn và còn sản xuất báo. Tương truyền, Phạm Cao Củng từng từ chối lời gợi ý gia nhập nhóm "Tự lực Văn đoàn" vì sợ nếu về đó, ông không còn được viết cho các báo và các nhà xuất bản bên ngoài.

(2) Giáo sư, họa sĩ Victor Tardieu (1870-1937), người sáng lập Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (cùng họa sĩ Nguyễn Nam Sơn) vào năm 1924 và là hiệu trưởng đầu tiên của trường này.

(3) Ngoài 3 tác phẩm về mùa thu, đầu năm 2006, báo chí trong nước có đăng bài về việc tìm thêm được một ca khúc khác của Đặng Thế Phong: bản “Gắng bước lên chùa” (nhạc Đặng Thế Phong, lời Phạm Cao Củng), đã được in trên báo “Tin Mới” ra ngày 27-2-1940. Xin xem "Vừa tìm thấy một nhạc phẩm của Đặng Thế Phong" ("Tiền Phong" ngày 11-1-2006).

(4) Xem "Đặng Thế Phong - Tài hoa bạc mệnh" (hồi tưởng của nhạc sĩ Lê Hoàng Long về Đặng Thế Phong).

 

Trần Lê tổng hợp


 
 Từ khóa: Đặng Thế Phong
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Theo dòng sự kiện

 

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn