Nhịp Cầu Thế Giới Online

http://nhipcauthegioi.hu


Tìm kiếm bản sắc Việt Nam: HÀNH TRÌNH TÌM VỀ SỰ BAO DUNG

(NCTG) “Cái đặc sắc văn hóa Việt Nam phải chăng là sự hỗn dung Văn hóa. Trên ngã ba đường của Thế giới, trên tuyến đường thương mại kết nối Trung Hoa và Ấn Độ, tổ tiên chúng ta đã đón nhận mọi luồng văn hóa để cấu trúc nên Đại Việt, cấu trúc nên người Việt Nam hôm nay” - kiến giải của Sông Hàn từ Hà Nội về bản sắc văn hóa Việt.
Nón quai thao – Nét duyên người Quan Họ
Phải đến mấy chục năm về trước, một nhà nghiên cứu Phương Tây có nói với GS. Trần Quốc Vượng, đại ý rằng: “Tri thức Trung Hoa là một khối khổng lồ (giant block) người Việt Nam các ông chỉ véo được vài mảng”. (1)

Tìm kiếm bản sắc Việt Nam là một hành trình đầy ưu tư và sóng gió. GS. Trần Quốc Vượng cho rằng: “Việt Nam vừa là context Đông Nam Á, vừa là context Đông Bắc Á”. Và ngay lập tức có người đáp lại: Tôi không chơi với ông vừa là thế này, vừa là thế kia.

Bóc hết cái văn hóa Hán ta còn lại gì?

Bóc hết cái vỏ văn hóa Hán thì ta còn lại gì? Phải chăng đó là cốt lõi Việt Nam? Hay cái gì để khẳng định rằng người Việt Nam ta khác với người Quảng Đông? Cái gì làm nên context Đông Nam Á của người Việt Nam như lời GS. Trần Quốc Vượng?

Tôi có người bạn là Giáo sư Đại học Paris 6. Tết về bên bữa cơm đón chào năm mới, bạn có hỏi: “Làm sao mà chúng ta bị nhầm là China. Cứ thấy đầu đen thì họ gọi ta là người China”. Đối diện câu hỏi của bạn, tôi chịu không tìm ra câu trả lời.

Tôi thấy cái gì mình cũng na ná như là một anh Tầu con. Từ đồ lễ tết với hoa đào, phong bao lì xì, từ cái chữ Phúc dán ngược đến vải thiều, kẹo xìu, hoa gạo, bánh bao xíu báo. Từ văn hiến ngàn năm gắn liền với Hán tự đến những tiêu chuẩn làm người … tử tế (nào là nhân, lễ, nghĩa, hiếu, trí, tín). 

Tôi chịu không tìm cho ra cái chất phi Hán trong chính mình. Cái nhãn tiền như vậy, thật sự làm cho tôi một người Dân tộc chủ nghĩa khó mà chấp nhận cho nổi. Dứt khoát phải tìm cho ra minh là người Việt Nam, mình khác với anh Tầu. 

Nhưng tìm trong cổ sử, vẫn lại thấy vóc dáng Đường tông – Tống tổ trong văn chương Hoàng gia Lý Trần. Một phong cách đặc sệt Trung Hoa trong văn học chữ Hán Lý – Trần. 

Ngàn năm trước từ “Thiên Đô Chiếu”, vị Hoàng đế vĩ đại khai sinh ra vương triều Lý – Lý Thái Tổ đã dẫn tích Thương, Chu ra để… chỉ trích “Đinh, Lê nhị thị”. “Phạt Tống lộ bố văn” của Lý Thường Kiệt, cũng là đem ngày Nghiêu tháng Thuấn ra để chiêu dụ dân Tống. Đến như “Dụ Chư Tì Tướng Hịch Văn” của Hưng Đạo Vương thì rặt toàn thấy anh hùng Hán – Đường, Tống, Nguyên.

Và còn rất rất nhiều nữa.

Vậy anh hùng xứ Nam ta đâu? Mà các bậc như Lý Tổ, Thường Kiệt, Hưng Đạo Vương không đưa vào? Nguyên nhân đó bởi đâu?

Và tôi tự hỏi: bỏ hết đi các giá trị văn hóa Hán ta còn lại gì? Bỏ hết đi Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín cùng cung cách Nho gia, ta còn lại gì? Nền tảng nào sẽ là cái bệ đỡ văn hóa – tinh thần của người Việt khi bỏ đi cái cốt cách Hán nhân như vậy? Câu hỏi rõ ràng là quá khó cho cả những người cấp tiến nhất!

Tìm về context Đông Nam Á

Nào phải chỉ riêng tôi hay ông bạn đang là Giáo sư Đại học Paris 6 băn khoăn không tìm ra nỗi ta khác Tầu. GS. Trần Quốc Vượng đã… rất rất thông minh khi cho rằng: Việt Nam vừa là thế này, vừa là thế kia. Và rằng tùy từng thời điểm mà context Đông Nam Á mạnh hơn, hay context Đông Bắc Á mạnh hơn.

Mười mấy năm trước, trong chuyến điền dã tại Phú Yên tức Champa một thuở. Nhìn những làng xóm vùng ven Tuy Hòa với mái tranh được bao phủ bởi rặng tre xanh và cánh đồng vàng óng, tôi bất giác nhớ làng quê Bắc Bộ. 

Nhưng thế lại phát sinh ra câu hỏi: Làng ấy là phiên bản copy từ Bắc Bộ theo chân những người Việt vào đây lập làng lập ấp. Hay nhiều làng Bắc Bộ là phiên bản từ dấu chân Cham ra bắc? 

Suốt ngàn năm qua theo những ghi chép của “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” có tới 10 vạn người Cham ra bắc. Họ được quân vương Đại Việt cho nhận bộ khúc (tức người trong làng xóm), lập làng lấy tên Cham (2). Họ đặc biệt giỏi trong nghề trồng lúa nước, dẫn thủy nhập điền, đào giếng, dệt lụa.

Phải nói có hàng trăm làng Cham trên vùng đất Bắc Bộ. 

Và giếng Cham cũng có mặt ở rất nhiều nhiều nơi. Ngay cái giếng cổ làng Diềm nơi tổ nghề Quan Họ cũng có cấu trúc Cham rõ ràng sắc nét. Ngay kinh thành Thăng Long cũng có dấu ấn Cham. TS. Nguyễn Tiến Đông cho rằng “Đại Việt lấy nguồn cảm hứng từ phương Nam, từ Chămpa để tạo nên một đối trọng với phương Bắc, một diện mạo mới cố gắng tách khỏi sự ràng buộc trong văn hóa từ phương Bắc”. (3).
Giếng Ngọc làng Diềm – Viêm Xá, Bắc Ninh – với bốn khúc gỗ lim đóng đáy
Giếng Ngọc làng Diềm – Viêm Xá, Bắc Ninh – với bốn khúc gỗ lim đóng đáy

Nhưng nói những chuyện ấy e rằng quá là vĩ mô. Vậy thì ta lấy cái mô thức gia đình thân thuộc gần gũi để mà làm minh chứng. G.Giran trong “Groyances religieuses des Annammites” cho rằng: “Chỗ khác nhau cơ bản nhất giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa Trung Hoa là ứng xử với Mẹ và Vợ”. Mô thức chung của gia đình Việt Nam là chồng trị vì vợ quản lý. Cái thực quyền trong gia đình (tế bào của xã hội) chính là nằm trong tay người Phụ nữ chứ không phải là Đức ông chồng.

Cái miếng ăn thường nhật của ta như lúa Chiêm, nước mắm thì đó là thành phần của context Đông Nam Á. 

Phải chăng đó là nét khác biệt giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa (Hoàng Hà)? Nhưng vẫn lại nhưng những nét này có thể lại đền từ những cộng đồng như Cham (Nam Đảo) hay Tày Thái (Tai – Kadai). Mà người Kinh Việt vì những biến động của lịch sử mà tiếp nhận?

Đất Việt bao dung và hỗn dung văn hóa trong lòng Kinh Việt

Người Việt ta nay có lúa Chiêm, nước mắm, nhưng cũng giỏi làm tương, làm đậu phụ những đặc sản từ Trung Hoa. Thế là thấy rõ ngay trong cái bữa ăn người Việt cũng hòa trộn hỗn dung cả hai bối cảnh Trung Hoa và Đông Nam Á.

Vậy thì ta sẽ tiếp tục tìm sâu hơn nữa. Từ cái thuở những tiền đề của văn hóa Đông Sơn cách đây 2.800 - 3.500 năm. Từ cái ngày mà văn hóa Hán chưa ập vào vùng đất nay là Châu thổ sông Hồng và suốt ngàn năm Trung Đại ta tự hào là Trung Châu. 

Ai đã trồng lúa đất này, ai tạo làng và ai tạo nên văn hóa Đông Sơn. Nền văn hóa mà người Việt ta thiết tha tự hào? Là nền văn hóa mà mấy chục năm qua chúng ta đinh chắc đấy là tổ tiên người Việt ta. Nhưng như GS. Lương Ninh từng nói ngay trong văn hóa Đồng Đậu cũng có thể có cả các yếu tố Môn cổ, Tày Thái (Tai – Kadai) và Nam Đảo (4). 

Bởi vì thật rõ ràng những người Nam Đảo, sau là Tai Kadai mới là bậc thầy của nghề trồng lúa nước. Ta lại dõi tiếp. Thật kỳ lạ trong văn hóa Đông Sơn vô vàn hiện vật khảo cổ học mang phong cách Xuân Thu – Chiến quốc. Từ Chuông, kiếm, dao, nạo, v.v... và v.v... (5).
 
Hiện vật Khảo cổ học một thuyền Việt Khê trong tương quan với các hiện vật khảo cổ Nam Trung Hoa theo phong cách Xuân Thu – Chiến Quốc
Hiện vật Khảo cổ học: mộ thuyền Việt Khê trong tương quan với các hiện vật khảo cổ Nam Trung Hoa theo phong cách Xuân Thu – Chiến Quốc

À ra thế từ 3.500 năm trước, từ thủa những ruộng lúa nước xuất hiện trên vùng châu thổ sông Hồng, đất này đã đón nhận rất nhiều luồng di cư. Tất cả những cái đó hòa trộn lại, châu thổ sông Hồng là men xúc tác để người Vietic (hay Môn cổ), người Tai – Kadai hay người Nam Đảo cùng sinh sống, cùng an cư và cùng hạnh phúc.

Tiếp nối sự bao dung của vùng đất nay là Việt Nam. Cả ngàn năm trung đại ta sẽ thấy những dòng người di cư vào Việt Nam. Cái văn hóa Đại La tiền thân văn hóa Thăng Long chẳng phải là do Cao Biền tạo dựng đó sao (6)? Kênh Cao Biền (Đàm Bồng Cổ Vận Hà - 潭蓬古运河) vẫn còn đó như là chứng tích một thời các dòng di cư từ Mân, Quảng vào châu thổ sông Hồng.
 
Thành Thăng Long mọc lên từ biển cả
Thành Thăng Long mọc lên từ biển cả

Vậy thì cái đặc sắc văn hóa Việt Nam phải chăng là sự hỗn dung Văn hóa. Trên ngã ba đường của Thế giới, trên tuyến đường thương mại kết nối Trung Hoa và Ấn Độ, tổ tiên chúng ta đã đón nhận mọi luồng văn hóa để cấu trúc nên Đại Việt, cấu trúc nên người Việt Nam hôm nay. Trong sự bao dung của vùng đất phía Đông bán đảo Trung Ấn này những giá trị dù Hán, dù Ấn, Tai – Kadai, Nam Đảo đều đã và đang có không gian cho riêng mình và đóng góp vô vàn vào văn hóa Việt Nam.

Và tôi nhận ra mình đã cố chứng minh sự tự hào sai lầm rằng ta khác Tầu. Trong khi niềm tự hào chân thật là đất này bao dung. Văn hóa Kinh Việt là sự bao dung sẵn sàng tiếp nhận và biến đổi chứ không phải là sự chia tách vật lý rạch ròi hay cố công tìm kiếm một ảo giác… ta khác Tầu. 

(*) Tác giả là thành viên “Cổ sử - Từ nguyên”. Nhó​m gồm một số cá nhân có chung đam mê tìm hiểu các vấn đề Tiền sơ sử ở khu vực Á Đông, yêu thích văn hoá dân tộc và quan tâm tới sự hình thành phát triển của các ngữ hệ trong khu vực.

Chú thích:

1. GS. Trần Quốc Vượng – Trường Đại học KHXH và Nhân Văn: Ghi chú về những tương đồng và dị biệt về những giá trị văn hóa Đông Á giữa Việt Nam và các nước Đông Á khác.

2. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên: “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư”, kỷ nhà Lý – Lý Thái Tông chép: Nhà vua “xuống chiếu cho các tù binh đều được nhận người cùng bộ tộc, cho ở từ trấn Vĩnh Khang đến Đăng Châu (nay là Quy Hóa), đặt hương ấp phỏng tên gọi cũ của Chiêm Thành”.

3. TS. Nguyễn Tiến Đông: “Yếu tố văn hóa Cham Pa ở kinh đô Đại Việt và vùng phụ cận” (Báo “Tia Sáng” ngày 2/8/2020).

4. GS. Lương Ninh – Trung tâm KHXH và NV Quốc gia: “Sự thiên di và hình thành những nhóm cư dân ở Đông Nam Á lục địa”.

5.Wei Weiyan, Shiung Chung‐Ching - Viet Khe Burial 2: “Identifying the Exotic Bronze Wares and Assessing Cultural Contact between the Dong Son and Yue Cultures”.

6. “Đại Việt sử ký Toàn thư” chép: “Cao Biền giữ phủ xưng vương, đắp La Thành vòng quanh 1.982 trượng lẻ 5 thước, thân thành cao 2 trượng 6 thước, chân thành rộng 2 trượng 5 thước, bốn mặt thành đắp các nữ tường nhỏ trên bốn mặt thành cao 5 thước 5 tấc, lầu nhìn giặc 55 sở, cửa ống sáu sở, cừ nước 3 sở, đường bộ 34 sở. Lại đắp con đê vòng quanh dài 2.125 trượng 8 thước; cao 1 trượng 5 thước; chân rộng 2 trượng, cùng làm nhà cửa hơn 40 vạn gian”.

Tác giả bài viết: Sông Hàn, từ Hà Nội